Có những đứa trẻ sinh ra không nhận cha mẹ mình hiện tại, chỉ nhận cha mẹ mình trong kiếp trước. Có nhiều trẻ nhỏ mới sinh ra đã là thần đồng âm nhạc, văn, toán học... và người ta cho rằng đó là do các siêu linh về các lĩnh vực này đầu thai vào... Thực tế có đúng như vậy và khoa học đã có những nỗ lực gì để tìm câu trả lời chính xác nhất cho hiện tượng này?

Những thí nghiệm
Năm 1901, tiến sĩ Duncan MacDougall, một nhà vật lý ở Massachusetts, Mỹ đã tiến hành một loạt các thí nghiệm để chứng minh rằng linh hồn con người có trọng lượng, hiểu theo nghĩa một đơn vị vật lý xác thực. MacDougall muốn đo đạc xem liệu có bất kỳ thay đổi đáng kể nào trong khối lượng của bệnh nhân vào thời khắc cuối đời của họ hay không. Ông đã đặt sáu bệnh nhân mắc chứng lao giai đoạn cuối trên một chiếc cân công nghiệp có khả năng đo đạc chính xác rất cao. Theo lời kể của TS MacDougall, cả sáu bệnh nhân đã mất khoảng 21 gram sau khi trút hơi thở cuối cùng. Tương tự, ông tiến hành thí nghiệm trên 15 con chó nhưng không phát hiện thấy thay đổi về khối lượng. Từ đó ông kết luận rằng sự chênh lệch khối lượng ở đây chính là khối lượng của linh hồn con người. Mặc dù nghe có vẻ logic, nhưng thí nghiệm này lại không có căn cứ khoa học và trên thực tế TS MacDougall đã tuyển chọn khi công bố các kết quả thí nghiệm của mình. Thực ra, chỉ một trong số các bệnh nhân của ông bị mất 21 gram sau khi chết và có một cách giải thích hợp lý cho hiện tượng này: Sau khi chết, hai lá phổi không còn thực hiện chức năng làm nguội máu nên có thể xuất hiện tình trạng toát mồ hôi. Lượng nước mất đi trong quá trình toát mồ hôi sau khi chết có thể lên đến 21 gram. Còn về trường hợp của những chú chó tội nghiệp, chúng sẽ không thể mất nước vì chúng không có tuyến mồ hôi. 

Sau câu chuyện “cân” linh hồn, thì một thí nghiệm khác được đưa ra để tìm hiểu về hiện tượng luân hồi được gọi là thí nghiệm giọng nói điện tử, đây được xem là hiện tượng xuất hiện các âm thanh kỳ lạ trong các cuộn băng thu âm điện tử. Những ai có thiên hướng tâm linh tin rằng những âm thanh này chính là giọng nói của người đã khuất. Âm thanh dạng này thường không có trong quá trình thu âm, nhưng lại xuất hiện trong quá trình tua lại. Người đàn ông đầu tiên đã thử tiếp xúc với thế giới linh hồn là nhiếp ảnh gia người Mỹ Atilla von Szalay. Những thí nghiệm đầu tiên của ông được tiến hành vào năm 1941. Nhưng ông đã không gặp may mắn, Szalay gặt hái được thành công đầu tiên vào năm 1956, khi ông bắt đầu sử dụng máy thu băng. Một số thông điệp ông ghi nhận được là “This is G!” (Đây là G!) và “Merry Christmas and Happy New Year to you all!” (Giáng sinh vui vẻ và Chúc mừng năm mới tất cả mọi người!). Trong nhiều năm qua, rất nhiều người đã thử liên lạc với người chết thông qua biện pháp này và một số người thậm chí còn tuyên bố chế tạo được những thiết bị được thiết kế riêng cho mục đích này. Hai trong số những thiết bị nổi tiếng nhất là Spiricom của O’Neil và Ghost Box (Hộp ma) của Frank Sumption. 

Không dừng lại ở đó, nhà phát minh Stanley Koren và nhà khoa học thần kinh Michael Persinger đã phối hợp tạo ra chiếc mũ bảo hiểm God Helmet. Thiết bị này có một vài cuộn dây gắn vào một chiếc mũ bảo hiểm của xe máy tuyết snowmobile. Theo Persinger, các cuộn dây này tạo ra các từ trường biến thiên có khả năng giúp người đeo trải nghiệm những “trạng thái thay đổi”. Từ trường được mũ bảo hiểm God Helmet tạo ra chỉ mạnh bằng từ trường tạo ra bởi một chiếc máy sấy tóc thông thường. Những người tham gia thí nghiệm của Persinger đã báo cáo cảm nhận được sự hiện hữu của các sinh mệnh, ví như các thiên thần hay thân nhân quá cố. Một người tham gia thậm chí còn tuyên bố đã tiếp xúc với Chúa. Thí nghiệm này đã khiến giới truyền thông gọi thiết bị của Persinger là mũ bảo hiểm của Chúa. Chính Persinger cũng liên tục khẳng định rằng 4 trong số 5 người đeo mũ đã cảm nhận được sự hiện hữu của các sinh linh hoặc sinh mệnh. Năm 2004, một nhóm các nhà nghiên cứu người Thụy Điển đã cố gắng tái lập thí nghiệm này dưới các điều kiện có kiểm soát nhưng không thành. Họ đưa ra kết luận rằng các kết quả thí nghiệm của Persinger đã bị làm thiên lệch bởi chính tính nhạy cảm của các thành viên tham gia vì họ không tìm thấy mối liên hệ giữa từ trường yếu của chiếc mũ và các trạng thái nhận thức biến đổi. Không nản lòng, Persinger và nhóm của ông đã phát triển một thiết bị khác tên là The Octopus (Bạch tuộc). Thiết bị này là một chiếc máy tăng cường cảm xúc đồng thời là máy sản sinh trạng thái biến đổi. Một nhóm nghiên cứu đã thí nghiệm nó và phát hiện thấy nó cũng không có ảnh hưởng gì khác biệt khi bật hay tắt. 

Hình ảnh chiếc Hộp ma nổi tiếng của Frank Sumption. Ảnh: TL
 
Ký ức ẩn giấu có là câu trả lời
Trước những nỗ lực kiếm tìm câu trả lời đầy đủ nhất về hiện tượng luân hồi thông qua các thí nghiệm khoa học có dấu hiệu bất thành, thì những nghiên cứu chỉ ra rằng không loại trừ khả năng hiện tượng luân hồi có mối quan hệ với hiện tượng đa nhân cách, nhân cách phân ly và ký ức ẩn giấu. Đa nhân cách là rối loạn tâm thần hiếm gặp, với chỉ hơn 200 trường hợp trên y văn thế giới được phát hiện trong hàng trăm năm qua. Hội chứng được dư luận chú ý đầu tiên vào năm 1957, do tác phẩm Ba khuôn mặt của Eve của hai nhà tâm thần Thigpen và Cleckley về một nữ bệnh nhân có ba nhân cách là Eve trắng, Eve đen và Jane. Trong ba nhân cách thì hai Eve thường cãi nhau, còn Jane đóng vai hòa giải! Sau điều trị, người phụ nữ lấy lại được nhân cách gốc của mình. Tờ Thời báo New York ngày 11-3-1994 đăng tải bài viết về một người đàn ông có 11 nhân cách, trong đó 8 nhân cách tuyên bố biết một số chi tiết của một vụ án. Vì thế quan tòa thẩm tra xem lời khai của từng nhân cách có khớp với nhau và với vụ án hay không. Các nhân cách có thể nổi lên lần lượt hay đồng thời. Đó là lý do một cô gái bỗng tự xưng là một thanh niên hoàn toàn khác, dân gian gọi là “ma nhập”. Dễ bị nhập nhất là người thần kinh yếu ớt và lúc nhỏ bị ngược đãi. Ngoài ra là người ưa thích và có khả năng phân thân. Vì thế các nghệ sĩ duy cảm dễ lên đồng, xuất hồn hay bị ma nhập hơn giới khoa học duy lý. 

Nhân cách phân ly là khi người bệnh khăng khăng xem mình là người khác, như một cách thoát ly khỏi thực tế không mong muốn. Nếu trong đa nhân cách, một người có thể vào vai hàng chục nhân cách khác nhau, thì trong nhân cách phân ly, thường chỉ có hai nhân cách (nhân cách gốc và nhân cách phân ly) mà thôi. Đa nhân cách và nhân cách phân ly thường gắn với các hiện tượng như cầu hồn, thoát xác, ma nhập, đầu thai hay luân hồi. Ký ức ẩn giấu là hiện tượng tâm lý đặc biệt, khi ta nhìn, nghe, đọc hay thu nhận được một số thông tin mà không biết là ta đã biết chúng. Vì không biết nên chúng ẩn giấu trong vô thức (hay vì ẩn giấu nên ta không biết). Thuật ngữ xuất hiện do một nhà tâm lý Canada thôi miên để người bệnh nhớ về “kiếp trước”. 

Dưới thôi miên, người bệnh viết và nói một thứ tiếng xa lạ, mà khi tỉnh lại anh không biết nó là gì và từ đâu ra. Các nhà nghiên cứu kết luận đó là Oscan, tiền thân của tiếng Latin. Mãi sau mới biết rằng, khoảng một năm trước, trong thư viện, người bệnh ngồi bên một người đang nghiên cứu một văn bản cổ bằng tiếng Oscan. Chỉ một thoáng nhìn ở mức vô thức, do kí ức ẩn giấu mà người bệnh biết thứ ngôn ngữ tối cổ đó! Rõ ràng, những lý giải này khá phù hợp với hiện tượng luân hồi, nhưng để sự việc sáng tỏ hơn thì thực sự khó, bởi hiện tượng luân hồi cũng giống như cuộc sống, nó có muôn mặt, muôn vẻ, việc giải thích những hiện tượng đơn lẻ không thể trở thành chân lý. Chính vì thế giáo sư Thomas thuộc trường ĐH NewYork, Mỹ đã nhận định rằng, “chúng ta không nên miễn cường tìm bằng được câu trả lời cho hiện tượng này, hãy nên bắt đầu từ những trường hợp cá biệt rồi qua đó tích lũy những kiến thức có được để khiến hiện tượng này ngày càng rõ dần lên trong con mắt của nhân loại”.

These icons link to social bookmarking sites where readers can share and discover new web pages.
  • Digg
  • Sphinn
  • del.icio.us
  • Facebook
  • Mixx
  • Google
  • Furl
  • Reddit
  • Spurl
  • StumbleUpon
  • Technorati